CÁC DI SẢN VĂN HOÁ THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM
HUẾ
Là cố đô của Viêt Nam từ năm 1802 tới 1945 dưới triều Nguyễn, Huế rất nổi tiếng với những thành quách, cung điện, lăng mộ hoàng gia, chùa chiền, đền đài nằm trên hai bờ của của con sông Hương thơ mộng. Tất cả được hoà quyện với cảnh đẹp thiên nhiên và hoà hợp với những nguyên lý chọn đất: thiên thời địa lợi. Bên cạnh những công trình kiến trúc, Huế còn giữ được những nét đẹp riêng thông qua các sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động tôn giáo, nghệ thuật ẩm thực,làm hàng thủ công, âm nhạc, những lễ hội mang tính văn hoá và nghệ thuật. Với những di tích quý giá và là kho báu về văn hoá, Huế đã trở thành một di sản văn hoá thế giới của Vệt Nam được UNESCO công nhận vào năm 1993.
Thành nội
Kiến trúc thành bao quanh, có chiều dài chu vi 9,950m, được bắt đầu xây dựng vào năm 1805 bên bờ bắc của con sông Hương bởi Vua Gia Long. Bức thành ban đầu được xây chủ yếu bằng đất, nhưng vào giữa những năm 1818- 1832 nó được lát bằng gạch dày 2m, loại gạch này là mẫu gạch của Pháp. Nơi vua và các quan đại thần làm việc được xây ngay trong Thành đại nội. Thành đại nội có 4 cửa, nổi tiếng nhất trong 4 cửa này là cửa Ngọ Môn (hay của phía nam), đựơc sử dụng như là cửa ra vào chính. Bên trong Thành nội là Cấm thành, nơi được sử dụng cho vua ở bao gồm hơn 100 công trình nhà cửa như cung điện, đền thờ, các pháo đài…Đại nội là nơi thú vị nhất để thăm ở Huế.
Bảo tàng di vật hoàng gia.
Một ngôi nhà đẹp chứa trong lòng nó cả một bảo tàng di vật của hoàng gia được xây dựng vào năm 1845 và được trùng tu lại khi bảo tàng được thành lập vào năm 1923. Đây là một công trình bằng gỗ mang đặc trưng kiến trúc độc đáo của Huế. Ngôi nhà được xây theo kiểu “trung thiêm đệp ốc” với 128 cây cột. Điều đầu tiên đập vào mắt du khách là các bức tường được trang trí với 1000 bài thơ được viết bằng chữ Nôm. Đa số các hiện vật trưng bày nơi đây thể hiện tính chất đặc trưng của triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Nơi đây du khách có thể thấy những đồ gia dụng hàng ngày của vua và hoàng cung cũng như các quan lại làm việc nơi đây. Bảo tàng nằm trên đường Lê Trực và được mở cửa từ 6.30 tới 5.30 chiều.
Lăng mộ hoàng gia.
Có đến 8 khu lăng tẩm hoàng gia ở Huế, đó là nơi yên nghỉ của các vua chúa triều Nguyễn. Trong số đó có lăng Tự Đức, Lăng Khải Định và Lăng Minh Mạng thường được du khách viếng thăm nhất. Kiến trúc của các lăng này rất tỷ mỷ và chúng thường được bắt đầu xây dựng khi vua còn ngự trị trên ngai vàng. Đa số các lăng này được đặt theo hướng Tay nam, hướng của Đại nội. Dù cho tất cả đều có kiến trúc độc đáo, thì đa số các lăng đều có 2 lớp. Lớp thứ nhất dùng cho các nghi thức tang lễ, và lớp thứ hai dùng để khâm liệm thi thể. Thông thường các lăng này được bao quanh bằng tường. Tuy vậy, kết cấu bên trong thì khác nhau, bởi vì những sắp xếp này thể hiện sở thích và tính cách của một quân vương. Các khu lăng mộ thường mở của vào 6.30 tới 5.30 chiều hàng ngày (mùa đông từ 7 tới 5).
Lăng vua Tự Đức.
Cách thành phố Huế khoảng 7 km, lăng vua Tự Đức được bao quanh bởi một bức tường dày. Tự Đức là ông vua thứ 4 của triều Nguyễn. Lăng của ngài được xây vào năm 1848 khi ấy ngài còn ngự trị trên ngai vàng. Khu lăng được xây một sơ đồ theo mô hình của hai chiếc rìu: một cho lăng và một cho điện thờ. Lăng bao gồm một số sông trình quan trọng, những hồ nhân tạo đầy sen và hoa súng, được bắc qua bằng nhiều cây cầu và được che phủ bởi nhiều loại cây, đây là một trong những kiệt tác hoành tráng và lãng mạn
Lăng vua Khải Định
Khải Định là ông vua thứ 12 của triều Nguyễn. Ngài cũng là cha của vua Bảo Đại, ông vua cuối cùng của Vệt Nam. Việc xây dựng lăng này được bắt đầu vào năm 1920 tới 1931. Quan niệm để xây dựng và trang trí lăng này bị ảnh hưởng rất lớn của kiến trúc châu Âu. Những mảnh gốm nhiều màu dùng để lát ốp trên bề mặt làm cho lăng này trang nghiêm và nền nhã.
Lăng vua Minh Mạng.
Cách thành phố Huế 12km, lăng Minh Mạng nằm trên nhánh phải của con sông Hưong. Lăng được xây theo bản tự thiết kế của nhà vua và giữa một rừng thông. Việc xây dựng được bắt đầu váo năm 1841 sau khi vua băng hà. Cung điện, sảnh đường và các lối đi được xây hoà hợp với hai hồ lớn xung quanh, điều này làm cho những công trình này sang trọng và yên bình.
Chợ Đông Ba:
Nằm ở phía đông nam của thành nội, chợ Đông Ba là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất Vệt Nam trong 100 năm trở lại đây. Được xây vào năm 1899 và năm 1968 nó bị phá huỷ vì chiến tranh, khu chợ được xây mới lại vào năm 1986. Cho đến bây giờ khu chợ hội tụ những đặc tính nổi bật của các khu chợ truyền thống ở Việt Nam chẳng hạn như có bến cho thuyền, bến xe buýt và các gian hàng. Chợ Đông Ba là nơi lý tưởng để chứng kiến những hoạt động hàng ngày của Huế và nơi để mua sắm với những đồ lưu niệm tới những hàng hoá bằng đồng, kẹo mè xửng, nòn bài thơ…
Chùa Thiên Mụ
Chùa Thiên Mụ, còn được gọi là chùa Linh Mụ, được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1601 bởi chúa Nguyễn Hoàng. Ngôi chùa này được xây dựng trên đồi quay mặt ra sông Hương, là một trong những ngôi chùa có kiến trúc độc đáo và nổi tiếng ở Việt Nam. Một đặc điểm nổi bật của ngôi chùa là những tháp cao 21 m có hình bát giác, có 7 tầng tháp Phước Duyên. Ngôi chùa được xây bởi vua Triệu Trị vào năm 1844 và trở thành một biểu tượng không chính thức của Huế. Nằm trên đồi Hà Khê, cách Huế 7 km, du khách có thể đến đó bằng xe hơi hay bằng thuyền. Du khách thường đến đây vào buổi chiều để ngắm cảnh hoàng hôn trên sông Hương và tham gia vào buổi hành lễ vào lúc 5h chiều.
Các nhà vườn.
Huế mang những nét đẹp không phải chỉ có sông Hương, núi Ngự và các lăng tẩm mà còn đẹp bởi những nhà vườn. Đây là những ngôi nhà mang đặc điểm nổi bật của Huế. Mỗi nhà vườn có diện tích khoảng 2000 m2. Trước nhà là ngõ được lát bằng gạch nung, xung quanh nhà là một khu vườn bao gồm tất cả các loại cây ăn quả và hoa. Điểm nổi bật của một ngôi nhà vườn là hòn non bộ với nhưng cây cối và núi non được bàn tay khéo léo của các nghệ nhân làm bằng đá, nước và cây cảnh, ngôi nhà, mảnh vườn , con người và phong cảnh nơi đây hoà quyện với nhau trong một khung cảnh huyền diệu. Tất cả đều toát lên một tình yêu thiên nhiên của con người nơi đây- đó cũng là bản chất của con người Huế. Du khách có thể thăm một số nhà vườn nổi tiếng như nhà vườn Lạc Vĩnh Tiên (65 đường Phan Đình Phùng) Nhà vườn Ngọc Sơn công chúa (29 đường Nguyễn Chí Thanh), nhà vườn Y Thao (số 3 Thạch Hãn)…
Sông Hương
Một chuyến thăm Huế sẽ không hoàn thiện nếu như du khách không đi du thuyền trên sông Hương. Con sông dài hơn 100 km này sở hữu một cái tên như một sự thật rằng nó chảy qua nhiều khu rừng rất đẹp trước khi chảy vào Huế, mang theo hương vị của của hoa rừng nhiệt đới. Một chuyến du thuyền sẽ cho du khách có cái nhìn toàn cảnh về Huế và con người nơi đây. Khi mà đêm buông xuống, mặt sông lăn tăn gợn sóng dưới ánh trăng hoà vào những khúc nhạc cung đình truyền thống của Huế càng làm cho dòng sông thêm lãng mạn và đượm chất thơ. Nhiều người cho rằng Huế đẹp và yên bình một phần là do dòng sông này tạo nên.
Đèo Hải Vân.
Trong tiếng Việt, Hải Vân có nghĩa là con đèo của mây mù của đại dương. Nằm trên quốc lộ số1 giữa Đà Nẵng và Huế. Chúng ta có thể thấy được một phong cảnh trải dài nơi núi dường như ngả vào long đại dương. Trong quá khứ đây là vùng tranh chấp của nhiều quốc gia trong vùng như vương quốc Chăm Pa. Việt Nam và Lào
Vườn Quốc Gia Bạch Mã
Chỉ cách Huế 45 km về phía nam, rừng quốc gia Bạch Mã đã từng là nhà nghỉ trên núi của người Pháp. Được xây dựng vào năm 1998, vườn quốc gia này nằm trên một vùng rừng núi với diện tích là 22,030 ha. Rừng ở đây có thảm thực vật phong phú xuất xứ từ cả hai miền nam và bắc cùng với những loài cây bản địa. Tới đây du khách có thể có những chuyến đi bộ thú vị và ở trong những khách sạn sang trọng và lãng mạn trong vùng.
HỘI AN
Phố cổ Hội An cách thành phố Đà Nẵng 30, nằm trên bờ của con sông Thu Bồn. Được phát hiện bởi những thương nhân ngoại quốc, Hội An là một trong những thương cảng quan trọng của nam Á vào thế kỷ 16. Hội An mang dáng dấp đặc trưng của người Hoa với những ngôi nhà thấp lợp ngói và những con phố hẹp; một số còn nguyên vẹn kiến trúc cổ xưa và hầu như chưa bị thay đổi. Tất cả các ngôi nhà đều được làm bằng gỗ quý hiếm, được trang trí bằng các tấm gỗ chạm khắc sơn mài với những phong cảnh đặc trưng của Trung Quốc. Các cây cột cũng được chạm trổ công phu.
Du khách đến đây là đến với nền văn hoá Sa Huỳnh và nền văn hoá Chăm rực rỡ, được thưởng thức vẻ đẹp lộng lẫy của sông Hội An, của bãi biển Cửa Đại và bán đảo Chăm. Trong những năm gần đây Hội An đã trở thành một điểm đến du lịch quan trọng của Việt Nam
KHÔNG CÓ ĐÈN NÊ ÔNG, KHÔNG CÓ XE MÁY, KHÔNG TIVI, CỨ VÀO NGÀY RẰM NGƯỜI DÂN Ở PHỐ CỔ HỘI AN LẠI QUÊN ĐI NHỮNG PHƯƠNG TIỆN CỦA CUỘC SỐNG HIỆN ĐẠI.
Trong một của hiệu, một người phụ nữ trong bộ trang phục truyền thống bằng lụa đang ngồi sau bàn, dưới ánh sang của ngọn đèn lồng làm bằng tre. Bên ngoài hai người ông già đang say sưa với những nước cờ tướng dưới ánh sáng của những ngọn nến. Những cảnh này cho ta liên tưởng tới quang cảnh của thế kỷ 19, và vẫn đang diễn ra hiện nay ở Hội An, ở một khu phố im lìm bên cạnh một con sông ở trung tâm tỉnh lỵ Quảng Nam.
Hội An đã từ lâu là nơi giao thoa của các nền văn hoá. Hơn 5 thế kỷ trước quốc gia Đại Việt đã mở rộng bờ cõi của mình về phía nam và xâm lấn cả lãnh địa của vương quốc Chăm Pa. Nhiều phần trong số đó băy giờ là miền trung Việt Nam. Hội An nằm bên bờ con song Hoài, nổi lên khi các thương gia người Nhật và Trung Quốc đã xây dựng một khu phố thương mại ở đây vào thế kỷ 16.
Những nền văn hoá giao thoa phong phú này còn vẫn lưu giữ cho đến ngày nay. Du khách có thể nhìn thấy ở phố cổ Hội An những của hàng hai tầng của người Hoa, những mặt tiền của những cửa hàng này được chạm khắc cầu kỳ trên gỗ và những mái ngói rêu phong vẫn đứng gan góc hơn 300 năm nay ở nơi này mặc cho tàn phá của thời tiết và chiến tranh. Những ngôi nhà cổ nằm quay lưng ra bờ sông này gợi cho du khách về một thời đại khác khi mà chợ của Hội An còn tràn ngập những hàng hoá đến từ Âns độ hay châu âu xa xôi, những toà nhà trang trí lộng lẫy,được lập nên bởi những tộc người di cư sang đây từ các tỉnh của Trung Quốc như là Quảng Đông, Vân Nam, đứng trang nghiêm yên tĩnh, một minh chứng cho nguồn gốc của một thị trấn thương mại.
Trong khi nét yêu kều cổ kính của Hội An luôn luôn được chiêm ngưỡng bởi du khách, cứ đến ngày rằm, những nét hiện đại của lối sống mới nhường chỗ cho quang cảnh của quá khứ. Vào những tối này thị trấn không có đèn đường, bóng đèn nê ông không được bật lên, toàn phố cổ chìm trong ánh sáng của những ngọn đèn lồng với những tia sáng ấm áp. Ngày xưa, người Việt thường làm đèn bằng những cái đĩa đựng dầu, sau dó các thương nhân ngoại quốc đã đưa đèn lồng tới đây từ cách thiết kế đèn lồng của người Tàu tới những chiếc đèn hình ngôi sao của người Nhật.
Khi lên kế hoạch bảo tồn những nét đặc trưng của phố cổ Hội An, người dân ở đây đã quyết định làm sống lại thú chơi đèn lồng truyền thống. Từ năm 1998, mỗi tháng một lần lễ hội đền lồng được áp dụng. Cứ vào đêm rằm cư dân ở các đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Lê Lợi và Bach Đằng thắp lên những chiếc đèn lồng và treo lên mài hiên nhà hay cửa sổ. Ti Vi, radio, đèn đường và đèn nê ông được tắt hết. Trên những đường phố yên tĩnh và lãng mạn bóng tối bị vỡ ra bởi ánh sáng của những chiếc đèn lồng đủ các hình khối và kích cỡ.
Đi trên những đường phố được chiếu sáng bằng đèn lồng như đi trong các câu chuyện thần tiên. Các đường phố đẹp như những bức tranh vì tất cả xe máy, xe đạp bị cấm sử dụng ở đây- trên phố cổ Hội An. Trên đường trần Phú, hãy dừng chân ở nhà hàng Faifo để nếm bánh bao truyền thống của Trung Quốc, hay đi tới Treated Cafe6, nơi những giỏ bằng tre được làm thành những chiếc đèn lồng. Những chiếc đèn lồng này thể hiện tính sáng tạo của con người nơi đây với những mẫu mã và chất liệu mới kể cả ánh sang được tạo ra ngay trong các ống tre.
A Warm Glow
Vào ngày rằm hàng tháng là ngày làm lễ phật, người dân ở đây bày biện thức ăn và đốt nhanh lên bàn thờ tổ tiên và đi tới một trong các ngôi chùa nơi đây. Mùi hương trầm, tiếng người tụng kinh hoà quyện vào phong cảnh của phố cổ làm cho phố cổ càng làm tôn thêm vẻ trang nghiêm. Vào những tối này du khách như sống lại hình ảnh của khu phố Hội An ngày xưa.
MỸ SƠN
Cách thành phố Đà Nẵng 69 km về phía đông nam, Mỹ sơn là một thành phố tráng lệ của vương quốc Chăm ngày xưa, vào khoảng thế kỷ 4 đến thế kỷ 12. Các đền đài ở Mỹ Sơn là một tổ hợp bao gồm nhiều quần thể những di tích khoảng hơn 70 công trình kiến trúc. Chúng bao gồm đền thờ và các tháp nối liền với nhau thiết kế bằng các viên gạch nung. Kiến trúc chính của Người Chăm là các tháp được xây lên để tưởng nhớ các vị vua của họ.
Theo các thông tin được khắc trên bia nền tảng ban đầu của quần thể kiến trúc cổ Mỹ Sơn là một ngôi chùa bằng gỗ dùng để thờ cúng thần Siva. Vào đầu thế kỷ 16, một trận hoả hoạn đã thiêu rụi ngôi đền. Dần dần những bí ẩn mang tính lịch sử của khu di tích này được các nhà khoa học làm sáng tỏ. Thông qua tư liệu được khắc trên bia và các triều đại , các nhà khoa học đã chứng minh được rằng Mỹ Sơn là thánh địa quan trọng nhất của người Chăm từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 15. Trong nhiều thế kỷ người Chăm đã xây lên đền Lip. một tổ hợp kép nối với nhau bằng gạch nung và đá. Đền chính dùng để thờ phật Linga-Yoni, người thể hiện năng lực sáng chế. Bên cạnh đền chính còn có các đền phụ thờ các vị thần linh và các ông vua. Mặc dù thời gian và chiến tranh đã phá huỷ một số tháp, các di tích chạm trổ và kiến trúc còn lại đã phản ánh đúng loại và quá trình lịch sử của người Chăm. Những kiệt tác của họ đã dánh dấu một kỷ nguyên huy hoàng cho triến trúc và nghệ thuật Chăm, cũng như đông nam châu Á.
Mỗi thời đại lịch sử đều có những nét đặc trưng của chúng, và vì vậy mỗi mỗi đền đều thờ một vị thần hay một ông vua của một triều đại, và đều có những phong cách kiến trúc đầy ấn tượng. Tất cả các tháp đền thờ Chăm đều được xây trên các nền khối hình vuông và gồm có 3 phần: một nền tảng chính của tháp thể hiện thế giơpí mà con người đang sống; phần thâm nghiêm của tháp, thể hiện linh hồn con người; phần đỉnh tháp thể hiện con người đang dâng hoa quả hat hình tượng cây, chim và động vật…tất cả những gì mà có quan hệ thân thiết với con người.
Theo các nhà nghiên cứu các tháp cổ Mỹ Sơn, nghệ thuật kiến trúc của các tháp Chăm ở các đền thờ ở Mỹ Sơn là sự hội tụ của các kiểu kiến trúc khách nhau, bao gồm tính kế thừa kiến trúc cổ của thế kỷ 7 và 8. Trong các di vật ở các khu khảo cổ được khai quật vào năm 1898, một tháp cao 24 m được tìm thấy trong khu vực tháp chùa và được đanh số mã là AI bởi các nhà khảo cổ và các nhà nghiên cứu về Mỹ Sơn. Tháp này là một kiệt tác của kiến trúc cổ Chăm, nó có 2 cửa một hướng về phía đông, một hướng về phía tây. Thân tháp cao và thanh mảnh với một hệ thống cột, có 6 tháp nhỏ xung quanh tháp chính. Tháp hai tầng này trông giống như một bông sen. Trên đỉnh của tháp làm bằng đá sa thạch (đá ong) và được chạm trổ hình con voi và sư tử. Ở tầng thấp hơn, các bức tường được khắc các nàng tiên và thần nước và con người đang cưỡi voi. Không may tháp này bị bom Mỹ phá huỷ vào năm 1969.
Sau khi quần thể tháp cổ Mỹ Sơn được khám phá, rất nhiều các di vật , đặc biệt là tượng các vũ nữ và các thần linh được người Chăm thờ cúng, các con vật được dùng là vật tế lễ và các vật dụng cho sinh hoạt hàng ngày được thu thập và trưng bày tai bảo tàng kiến trúc Chăm ở thành phố Đà Nẵng. Tuy không có được nhiều di vật còn sót lại nhưng những di vật cũng thể hiện giá trị văn hoá của dân tộc Chăm. Hơn nữa chúng là những bằng chứng sinh động, khẳng định lịch sử của một dân tộc sinh sống trong lòng cộng đồng Việt Nam giàu bản sắc văn hoá.
Head office : TRAVEL KLAI KAO 507/13 Roads publications; Muang, Muang, Nakhon phanom 48000 Tel. 042-513656/8-1262-1564 fax: 330-523-42.
Brand office : 15/2 C1 street - 13 wards - Tan Binh - Viet Nam
Email : Kaoklaitravel @gmail.com
Tel : +84913817043
Website : http://thegioidulichbui.blogspot.com/








